Video Clip
Skip portletPortlet Menu

Phóng sự Kỷ niệm 70 năm Ngày Thành lập ngành KHĐT 31/12/1945 - 31/12/2015
 
 
 
 
 
Nội dung chi tiết
Skip portletPortlet Menu
 
Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hội nghị xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư công năm 2020 Vùng miền Trung và Tây Nguyên (12/08/2019 10:00 AM)

Ngày 12/8/2019, tại thành phố Huế, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Đức Trung, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức Hội nghị xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư công năm 2020 Vùng miền Trung và Tây Nguyên gồm 19 địa phương.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 6 tháng đầu năm 2019, kinh tế 14 tỉnh vùng miền Trung đang đồng loạt khởi sắc, tốc độ tăng trưởng bình quân 6 tháng năm 2019 của vùng đạt cao so với bình quân chung cả nước. Tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm ước đạt khoảng 8,05% cao hơn bình quân chung cả nước (bình quân cả nước 6,76%). Trong đó có 8/14 địa phương tăng trưởng 6 tháng/2019 cao hơn bình quân chung cả nước là: Thanh Hóa ước tăng 22,18%, Hà Tĩnh 12,78%, Ninh Thuận 10,07%, Phú Yên 9,2%, Bình Thuận 8,46%, Nghệ An 7,09%, Thừa Thiên - Huế 6,87%, Quảng Trị 6,8% và 6 địa phương tăng trưởng thấp hơn bình quân chung là: Bình Định 6,7%, Khánh Hòa 6,5%, Quảng bình 6,32%, TP. Đà Nẵng 6,21%, Quảng Nam 6,21%, Quảng Ngãi 4,4%,...

 

Thứ trưởng Nguyễn Đức Trung, chủ trì Hội nghị

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi tình hình thời tiết bất lợi và khó khăn trong ngành chăn nuôi lợn, tăng trưởng 6 tháng đầu năm ước đạt 2,83% (cả nước 2,39%). Trong đó điểm sáng của vùng là ngành thủy sản, ước tăng 7,5% (cả nước 6,45%), ngành chăn nuôi gặp khó khăn do dịch tả lợn châu Phi lây lan trên diện rộng; ngành lâm nghiệp tăng khoảng 4,15%.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng khá, đạt khoảng 12,8% (cả nước 8,93%), trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vững vai trò chủ chốt dẫn dắt mức tăng trưởng chung của ngành. Một số địa phương 6 tháng tăng trưởng công nghiệp-xây dựng cao là Hà Tĩnh ước tăng 26,23, Thanh Hóa 26,05%, Nghệ An 9,07%, Quảng Trị 9,2% và Thừa Thiên - Huế 9,29%, Phú Yên 18,2%, Ninh Thuận 24,28%, Bình Thuận 14,99%. Thanh Hóa, Hà Tĩnh tăng trưởng cao do đóng góp của 2 dự án động lực là Nhà máy lọc dầu Dung Quất, thép Formosa.    

Khu vực dịch vụ duy trì đà tăng trưởng ổn định, ước đạt 7,2% (cả nước 6,69%), đóng góp lớn nhất là khu vực dịch vụ du lịch khoảng 30-40% tổng giá trị tăng thêm của ngành. Một số địa phương 6 tháng tăng trưởng cao là Thanh Hóa ước tăng 6,99%, Nghệ An 7,48%, TP Đà Nẵng 7,69%, Khánh Hòa 8,1%.

Thu ngân sách nhà nước đạt cao nhất từ trước tới nay, đạt trên 57% dự toán trung ương giao. Tính đến hết tháng 6, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 100,73 nghìn tỷ đồng, bằng 57% dự toán trung ương giao (173,5 nghìn tỷ đồng) cao hơn mức bình quân cả nước 52,8%, tăng 18% so cùng kỳ năm 2018. Trong đó: (i) thu nội địa ước đạt 77,94 nghìn tỷ đồng, bằng 55% dự toán (cả nước 51,1% dự toán).

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt khá: Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính đến ngày 30/6/2019, tổng vốn đầu tư FDI đăng ký trong 6 tháng đầu năm 2019 của vùng ước đạt 1,38 tỷ USD, chiếm 7,5% cả nước (cả nước 18,4 tỷ USD). Trong đó, 117 dự án cấp mới với số vốn 1,14 tỷ USD, tăng 62% so cùng kỳ năm 2018; 22 dự án bổ sung số vốn 76,79 triệu USD. Địa phương thu hút nhiều nhất là TP Đà Nẵng với 66 dự án, 380,66 triệu USD, tiếp theo là Phú Yên với 1 dự án 216 triệu USD (điện mặt trời), Nghệ An 4 dự án với 212,8 triệu USD.

Tuy vậy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Vùng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế đó là: Động lực tăng trưởng công nghiệp của vùng còn yếu. Trong 14 tỉnh, chỉ có 3 tỉnh là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ năm 2019 có dự án động lực quy mô lớn. Các tỉnh còn lại tốc độ tăng trưởng công nghiệp còn thấp, chưa khai thác được thế mạnh hệ thống cảng biển, sân bay sẵn có. Một số hành lang kinh tế (Đà Nẵng - Quốc lộ 1A và hành lang Đà Nẵng - Quốc lộ 14B - 14D - Nam Giang - Đông-Tây; Dung Quất - Tây Nguyên; Quy Nhơn - Tây Nguyên) chưa phát huy sức hút lớn về công nghiệp, dịch vụ. Vùng KTTĐ miền Trung chưa thể hiện được vai trò là hạt nhân tăng trưởng, đầu tầu dẫn dắt kinh tế vùng. GRDP đến 2018 chỉ chiếm 6,93% GDP của cả nước. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hàng năm thời kỳ 2016-2018 là 7,3%/năm (đứng thứ 3 trong 6 vùng kinh tế của cả nước) thấp hơn bình quân vùng (7,62%). Tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2019 của 4/5 địa phương tăng trưởng thấp hơn bình quân chung của vùng và cả nước. thu ngân sách chưa bền vững, mặc dù tăng cao nhưng số thu một lần, thu không ổn định còn chiếm tỷ lệ lớn, thu từ tiền sử dụng đất, xổ số kiến thiết chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu nội địa, chiếm tỷ lệ từ khoảng 22-25%. Hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, nội vùng còn yếu và thiếu. Tuyến đường ven biển kết nối các tỉnh và vùng dải bờ biển miền Trung chưa được đầu tư, các tuyến đường ngang nối khu vực ven biển lên Tây Nguyên, khu vực trung du, miền núi các tỉnh chưa được đầu tư mới, nâng cấp. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp (tỷ lệ qua đào tạo có cấp chứng chỉ mới đạt khoảng 22-23%); nguy cơ thiếu hụt nguồn lao động trong những năm tới do dịch chuyển dân số vùng và tỷ lệ già hóa dân số đòi hỏi phải có các giải pháp kịp thời trong thời gian tới. Tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao so với cả nước. Phát triển chưa đồng đều xét trên yếu tố vùng, lãnh thổ giữa các tỉnh trong vùng và nội bộ từng địa phương, ảnh hưởng tới khả năng phát triển Vùng một cách đồng bộ, toàn diện.

Trong lĩnh vực đầu tư công, theo báo cáo của Bộ Tài chính, giải ngân toàn vùng đến 30/7/2019 là 22,853 tỷ đồng (chỉ tính phần vốn đã được TTCP giao đến 31/7/2019) đạt 43,47%, cao hơn mức bình quân chung cả nước 36,16%. Vùng có 3 địa phương giải ngân trên 60% kế hoạch đã giao là Thanh Hóa 60,06%, Nghệ An 67,05%, Phú Yên 74,46%. Có 05 địa phương có mức giải ngân thấp hơn mức bình quân chung cả nước là: Quảng Trị 34,64%, Đà Nẵng 28,12%, Quảng Nam 27,17%, Khánh Hòa 22,89%, Ninh Thuận 36,12%.

Đối với xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020: Năm 2020 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm cuối thực hiện Kế hoạch 5 năm 2016-2020, cũng là năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 phải vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn, đồng thời phải hướng tới mục tiêu nỗ lực, phấn đấu hoàn thành toàn diện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, nhất là việc đặt mục tiêu của năm 2020. Theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, việc tổng hợp, báo cáo Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 và dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 cần làm sớm, do đó đề nghị các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện, đảm bảo chất lượng và tiến độ báo cáo.

Đối với xây dựng kế hoạch đầu tư công năm 2020: Kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2020 về cơ bản bằng năm 2019, các bộ, ngành, địa phương cần xây dựng phương án phân bổ kế hoạch chi chặt chẽ, xác định rõ mục tiêu, thứ tự ưu tiên trong kế hoạch đầu tư công năm 2020 phù hợp với kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 đã được Quốc hội thông qua và tiến độ thực hiện các dự án, trong đó: Bố trí đủ kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2020 để thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản còn lại chưa thanh toán, bố trí đủ vốn cho các dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2020.

Ưu tiên bố trí vốn cho dự án đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn; thu hồi các khoản vốn ứng trước còn lại của kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2016-2020; vốn chuẩn bị đầu tư cho các dự án dự kiến triển khai trong giai đoạn 2021-2025; vốn cho các nhiệm vụ quy hoạch theo quy định của Luật Quy hoạch và các Nghị định hướng dẫn; vốn đối ứng cho dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư. Dự án chuyển tiếp thực hiện theo tiến độ được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đối với các dự án khởi công mới, chỉ bố trí vốn kế hoạch năm 2020 cho các dự án thật sự cần thiết đáp ứng đủ các điều kiện: (i) Đã được cấp có thẩm quyền giao kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020; (ii) Đến ngày 31 tháng 10 năm 2019 có quyết định đầu tư dự án theo đúng quy định của Luật Đầu tư công; (ii) Đối với dự án chuẩn bị đầu tư phải có Quyết định phê duyệt dự toán chuẩn bị đầu tư đến ngày 31 tháng 10 năm 2019.

Bố trí kế hoạch đầu tư vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài cân đối trong NSNN cho các dự án bảo đảm theo tiến độ đã ký kết với nhà tài trợ, khả năng cân đối nguồn vốn đối ứng, tiến độ giải phóng mặt bằng theo quy định của Luật Đất đai, năng lực của chủ đầu tư chương trình, dự án và tiến độ thực hiện dự án./.

Nguyễn Doãn Hùng - Sở KH&ĐT

 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
<<   <  1  2  3  4  5  ...  >  >>  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu